|
ỦY BAN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
Số: 261/BC-GDĐT-GDTX
|
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 23 tháng 01 năm 2018
|
BÁO CÁO
Sơ kết Học kỳ I và định hướng nhiệm vụ Học kỳ II Năm học 2017 - 2018
Giáo dục thường xuyên
Thực hiện Chỉ thị số 2699/CT-BGDĐT ngày 08 tháng 8 năm 2017 của Bộ Giáo dục và Đào tạo về nhiệm vụ chủ yếu năm học 2017 - 2018 của ngành giáo dục; Công văn số 3764/BGDĐT-GDTX ngày 17 tháng 8 năm 2017 của Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ năm học 2017 - 2018 đối với giáo dục thường xuyên; Phương hướng và nhiệm vụ năm học 2017 - 2018 và tình hình thực hiện nhiệm vụ Học kỳ I năm học 2017 - 2018 giáo dục thường xuyên,
Sở Giáo dục và Đào tạo thành phố Hồ Chí Minh báo cáo sơ kết Học kỳ I và định hướng nhiệm vụ Học kỳ II năm học 2017 - 2018 đối với giáo dục thường xuyên như sau:
I. ĐẶC ĐIỂM TÌNH HÌNH
Mạng lưới giáo dục thường xuyên thành phố hiện nay có 6 trung tâm giáo dục thường xuyên cấp thành phố[1], 10 trung tâm giáo dục nghề nghiệp - giáo dục thường xuyên[2], 14 trung tâm giáo dục thường xuyên cấp quận, huyện và 6 phân hiệu giáo dục thường xuyên (sau đây gọi tắt là trung tâm) với 521 phòng học, 51 phòng thí nghiệm, 27 phòng thư viện (46.782 đầu sách), 37 phòng máy vi tính với 1.551 máy, 8 phòng lab, 85 máy projector và 30 màn hình LCD.
Trung tâm học tập cộng đồng hiện có 320 trung tâm, đạt tỷ lệ 99,38%, đạt chỉ tiêu đề ra, trong đó có 131 trung tâm có cơ sở vật chất riêng, 114 trung tâm kết hợp với nhà văn hóa, 271 trung tâm được kết nối mạng internet, 262 trung tâm có tủ sách riêng với 78.157 đầu sách; 62 trung tâm được xây dựng là trung tâm nguồn làm hạt nhân cho các trung tâm khác và các hoạt động ở địa phương.
Hiện nay có 606 trung tâm ngoại ngữ, tin học, trong đó có 408 trung tâm chuyên dạy ngoại ngữ, 17 trung tâm chuyên dạy tin học và 181 trung tâm dạy cả hai loại hình trên, riêng số trung tâm dạy tiếng Anh chiếm gần 90%, số trung tâm còn lại dạy tiếng Nhật, tiếng Hàn, tiếng Hoa, tiếng Đức, tiếng Tây Ban Nha và tiếng Việt cho người nước ngoài. Có 12 trung tâm ngoại ngữ (hoạt động theo Nghị định 73/2012/NĐ-CP ngày 26 tháng 9 năm 2012 của Thủ tướng Chính phủ Quy định về hợp tác, đầu tư của nước ngoài trong lĩnh vực giáo dục) chủ yếu tổ chức dạy tiếng Anh, tiếng Hàn và tiếng Nhật.
Với đặc điểm tình hình như trên, trong Học kỳ I năm học 2017 - 2018 ngành học giáo dục thường xuyên Thành phố gặp những thuận lợi và khó khăn như sau:
1. Thuận lợi
Thành ủy, Ủy ban nhân dân Thành phố đã ban hành các văn bản chỉ đạo thực hiện công tác phổ cập giáo dục, xóa mù chữ và phân luồng học sinh sau trung học cơ sở trên địa bàn thành phố[3], là tiền đề thuận lợi thực hiện nhiệm vụ xóa mù chữ và xây dựng xã hội học tập trên địa bàn thành phố.
Đa số các trung tâm có tập thể sư phạm trẻ, nhiệt tình, đạt chuẩn đào tạo, đoàn kết, thực thi nhiệm vụ với tinh thần trách nhiệm, hợp tác và cùng phấn đấu hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.
Các tổ chức chính trị như Chi bộ, Công đoàn, Đoàn thanh niên, Ban đại diện Cha mẹ học viên hoạt động đều tay, hiệu quả hỗ trợ tích cực cho công tác dạy và học.
Công tác đa dạng hóa, liên kết trong đào tạo đã có chuyển biến tốt, công tác văn thể mỹ xây dựng trường học thân thiện, học viên tích cực, môi trường sư phạm đã được đầu tư đúng mức.
Cơ sở vật chất một số trung tâm khang trang, xanh, sạch, đẹp với trang thiết bị khá đầy đủ là điều kiện để các trung tâm không ngừng nâng cao chất lượng giáo dục và rèn luyện học viên.
2. Khó khăn
Một số trung tâm tổ chức dạy và học 3 ca/ngày từ thứ Hai đến thứ Bảy; cơ sở vật chất nhỏ hẹp, sân chơi nhỏ so với qui mô số học viên, nên khó khăn trong công tác tổ chức các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp và rèn luyện kỹ năng sống và tổ chức các phong trào cho học viên.
Nhiều gia đình học viên và bản thân học viên có hoàn cảnh khó khăn nên chưa thật sự quan tâm đến việc học tập, một số học viên vừa học vừa làm nên thời gian đầu tư cho việc học còn hạn chế.
Một số trung tâm số lượng học viên còn ít nên ảnh hưởng đến nhiều hoạt động chung, trong đó có ảnh hưởng đến kinh phí hoạt động của trung tâm; một số địa phương có địa bàn rộng, nhiều phân hiệu cách xa nhau nên việc phân công giáo viên giảng dạy, quản lý giảng dạy và ôn thi trung học phổ thông quốc gia còn gặp nhiều khó khăn[4].
II. TÌNH HÌNH THỰC HIỆN NHIỆM VỤ HỌC KỲ I
1. Thực hiện các cuộc vận động và phong trào thi đua
1.1. Tham gia các phong trào thi đua
Tiếp tục thực hiện Chỉ thị 05-CT/TW ngày 15 tháng 5 năm 2016 của Bộ Chính trị khóa XII về “Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”, các trung tâm đã tổ chức hoạt động bằng nhiều nội dung phong phú và đa dạng thu hút nhiều giáo viên và học viên tham gia đã tạo ra nhiều điển hình mới trong tu dưỡng và rèn luyện.
Phong trào thi đua với nội dung “Mỗi thầy cô giáo là một tấm gương đạo đức, tự học và sáng tạo” tiếp tục được phát động, qua phong trào thi đua đã xuất hiện nhiều tấm gương trong hoạt động dạy và học[5], tạo động lực mới trong phong trào thi đua.
Đã tổ chức phổ biến, giáo dục pháp luật cho cán bộ, giáo viên và nhân viên; phối hợp với các lực lượng xã hội trong và ngoài trung tâm tuyên truyền, giáo dục pháp luật cho học viên.
Đẩy mạnh công tác giáo dục học viên “Sống có trách nhiệm, sống trung thực, nhân ái”. Phấn đấu xây dựng thế hệ học viên thành phố có trí tuệ, có thể lực, văn minh, lịch sự, nghĩa tình, hiện đại và hội nhập quốc tế. Tham gia phong trào thi đua “Xây dựng trường học thân thiện, học viên tích cực”[6]. Tổ chức nhiều hoạt động nhằm phát huy tính tích cực, năng lực sáng tạo của học viên: hội diễn văn nghệ, hội thao, cắm hoa, kể chuyện tuyên truyền pháp luật,… Tham gia tốt các hội thi, các hoạt động cấp thành phố cùng với giáo dục phổ thông như tham gia hội thi “Cùng non sông cất cánh năm 2017”[7], tham gia cuộc thi “Đi xe đạp vì môi trường văn hóa giao thông năm 2017”[8].
1.2. Tổ chức tuần sinh hoạt tập thể
Các trung tâm tổ chức tốt hoạt động “tuần sinh hoạt tập thể” đầu năm học, đặc biệt quan tâm đối với các lớp đầu cấp nhằm giúp học viên làm quen với điều kiện học tập, sinh hoạt và tiếp cận phương pháp dạy học và giáo dục trong các trung tâm. Nghi thức chào cờ, hát Quốc ca đầu tuần với các nội dung đã được chuẩn bị tốt trở thành nền nếp sinh hoạt thường xuyên, nghiêm túc, thể hiện lòng nhiệt huyết, lòng tự hào dân tộc và lan tỏa sâu rộng trong các trung tâm.
1.3. Thực hiện chương trình hành động của Chính phủ về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo
Công tác giáo dục chính trị tư tưởng, giáo dục truyền thống, giáo dục đạo đức lối sống, tinh thần yêu nước được quan tâm thực hiện đầy đủ tại các trung tâm; nhiệm vụ bảo đảm an ninh, trật tự luôn được các trung tâm quan tâm thực hiện; các hoạt động giáo dục kỹ năng sống được thực hiện một cách linh hoạt giúp học viên linh động ứng phó trong cuộc sống và trong học tập.
Các trung tâm đã thực hiện nghiêm túc, trách nhiệm trong đổi mới phương thức, hình thức kiểm tra đánh giá kết quả học tập theo năng lực thực tế của học viên, qua kiểm tra các trung tâm đã xây dựng kế hoạch ôn tập rèn luyện phù hợp với học viên để giúp học viên vươn lên trong học tập.
2. Nhiệm vụ xây dựng xã hội học tập
2.1. Căn cứ Quyết định số 5506/QĐ-UBND ngày 07 tháng 10 năm 2013 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh về phê duyệt kế hoạch thực hiện đề án xây dựng xã hội học tập giai đoạn 2012 - 2020 trên địa bàn Thành phố, nhiệm vụ xây dựng xã hội học tập đã được các quận, huyện, sở, ngành, đoàn thể quan tâm chỉ đạo thực hiện được thể hiện qua các cuộc họp giao ban đánh giá nhiệm vụ xây dựng xã hội học tập hàng tháng tại các xã, hàng quý tại các quận, huyện; qua các văn bản chỉ đạo, báo cáo sơ kết triển khai kế hoạch xây dựng xã hội học tập hàng năm tại các quận, huyện, sở, ngành, đoàn thể; quan tâm cơ cấu Ban Giám đốc trung tâm học tập cộng đồng theo quy chế, đầu tư cơ sở vật chất điều kiện làm việc cho các trung tâm, bố trí kinh phí cho trung tâm hoạt động; kiểm tra đánh giá xếp loại hoạt động trung tâm học tập cộng đồng, xếp loại danh hiệu cộng đồng học tập cấp xã hàng năm; qua các lớp bồi dưỡng nghiệp vụ quản lý trung tâm học tập cộng đồng được mở tại các quận, huyện[9] và bồi dưỡng các chuyên đề cấp thành phố.
Phối hợp tổ chức tổng kết 10 năm thực hiện Chỉ thị 11-CT/TW của Bộ Chính trị về công tác khuyến học, khuyến tài xây dựng xã hội học tập, hội nghị đã đánh giá kết quả đạt được trong 10 năm, xây dựng các gương điển hình trong khuyến học, khuyến tài, học tập suốt đời, tuyên dương khen thưởng những tập thể, cá nhân đạt thành tích trong công tác khuyến học, khuyến tài, xây dựng xã hội học tập.
2.2. Phối hợp với Hội Khuyến học triển khai thực hiện Thông tư số 44/2014/TT-BGDĐT của Bộ Giáo dục và Đào tạo qua Công văn số 606/GDĐT-GDTX ngày 02 tháng 3 năm 2017 triển khai thực hiện đại trà Thông tư số 44/2014/TT-BGDĐT trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh năm 2017; khảo sát các phường, xã làm thí điểm triển khai Thông tư số 44/2014/TT-BGDĐT, các trung tâm học tập cộng đồng và hoạt động của các câu lạc bộ Gia đình hiếu học tại 24 quận, huyện; tọa đàm các mô hình học tập theo Quyết định 281/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ và Thông tư số 44/2014/TT-BGDĐT của Bộ Giáo dục và Đào tạo.
2.3. Các quận, huyện tổ chức các buổi tập huấn kiểm tra đánh giá xếp loại “Cộng đồng học tập cấp xã” theo Thông tư số 44/2014/TT-BGDĐT của Bộ Giáo dục và Đào tạo đến tận các phường, xã, thị trấn; ban hành kế hoạch, phân công nhiệm vụ kiểm tra cho các thành viên Ban chỉ đạo cấp huyện, chỉ đạo phòng giáo dục và đào tạo phối hợp với hội khuyến học quận, huyện và các đơn vị có liên quan thực hiện kế hoạch, lập hồ sơ, tổ chức kiểm tra, đánh giá, xếp loại “Cộng đồng học tập” cấp xã, phường trong năm 2017.
2.4. Hoạt động “Tuần lễ hưởng ứng học tập suốt đời”
Tuần lễ hưởng ứng học tập suốt đời năm 2017 đã được tổ chức (từ ngày 02 tháng 10 đến ngày 08 tháng 10 năm 2017) với chủ đề “Học để xây dựng Thành phố Hồ Chí Minh trở thành đô thị thông minh” với các hoạt động đa dạng, phong phú, thiết thực và hiệu quả.
Trong tuần lễ các quận, huyện đã tổ chức 317 xe loa; 3.263 băng rôn, pa nô, áp phích, 05 màn hình led cổ động; phát hành 27.922 tờ rơi, 13.079 tài liệu tuyên truyền “Tuần lễ hưởng ứng học tập suốt đời năm 2017”. Đã có 180 bài viết trên các báo, 12 phóng sự trên truyền hình tuyên truyền cho nhiệm vụ xây dựng xã hội học tập, huy động 110.891 lượt người tham gia các hoạt động giáo dục kỹ năng sống, 1.415 lượt người học nghề, vận động 1.170 lượt người ra học xóa mù chữ, 9.891 lượt người tham gia học các chuyên đề tại địa phương.
Đã tổ chức 531 buổi hội thảo, tọa đàm với các nội dung như: “Đẩy mạnh phong trào học tập suốt đời trong gia đình, dòng họ, cộng đồng”, “Phòng chống tai nạn thương tích và các tệ nạn xã hội”; “Các giải pháp nhân rộng mô hình “Gia đình học tập”, “Dòng họ học tập”, “Cộng đồng học tập”, “Đơn vị học tập” và “Nâng chất lượng hoạt động của Chi hội Khuyến học khu phố”; “Các giải pháp huy động nguồn lực địa phương hỗ trợ hoạt động Trung tâm học tập cộng đồng”, huy động được 154.314 lượt người tham dự; đã tổ chức 69 cuộc triển lãm về học tập suốt đời với 47.013 lượt người tham gia; tổ chức 239 buổi hội diễn văn nghệ, tuyên truyền về học tập suốt đời cho Nhân dân và học sinh; tổ chức 107.637 lượt người tham quan học tập các Trung tâm học tập cộng đồng, các mô hình, sản xuất, kinh doanh có hiệu quả ở các quận, huyện, giúp cho người dân nâng cao nhận thức về nội dung hoạt động của Trung tâm học tập cộng đồng.
2.5. Kết quả đánh giá xếp loại cộng đồng học tập cấp xã năm 2017
Sau một năm thực hiện thí điểm kiểm tra, đánh giá, xếp loại “Cộng đồng học tập” cấp xã theo Thông tư số 44/2014/TT-BGDĐT ngày 12 tháng 12 năm 2014 của Bộ Giáo dục và Đào tạo (Thông tư 44) với kết quả khả quan, năm 2017 là năm đầu tiên thực hiện đại trà Thông tư 44 trên phạm vi toàn Thành phố.
Sở Giáo dục và Đào tạo (Cơ quan thường trực Ban chỉ đạo xây dựng xã hội học tập Thành phố) đã phối hợp với Hội khuyến học Thành phố, có văn bản gửi Ủy ban nhân dân quận, huyện chỉ đạo triển khai đánh giá đại trà “Cộng đồng học tập” cấp xã tại 319 phường, xã, thị trấn theo Thông tư 44, kết quả cụ thể như sau:
Tính đến ngày 15 tháng 01 năm 2018 có 13 quận, huyện đã gửi Báo cáo[10] (huyện Củ Chi chỉ có 9/21 xã xếp loại), kết quả xếp loại Tốt: 118 phường, xã; xếp loại Khá: 54 phường, xã; xếp loại Trung bình: 0; Chưa báo cáo: 135 phường, xã thuộc 10 quận và 1 huyện[11].
3. Củng cố mô hình hoạt động của các cơ sở giáo dục thường xuyên
3.1. Đối với trung tâm giáo dục thường xuyên
Trong năm học 2017 - 2018 các trung tâm đã tận dụng tối đa cơ sở vật chất, đội ngũ giáo viên để tiếp nhận học viên vào học văn hóa kể cả học viên vừa học văn hóa vừa học nghề (đính kèm phụ lục bảng số liệu học viên năm học 2017 - 2018, có so sánh với Học kỳ I năm học 2016 - 2017).
Đưa vào sử dụng mới Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp - Giáo dục thường xuyên quận Bình Tân, khởi công xây dựng mới Trung tâm Giáo dục thường xuyên Tiếng Hoa, sửa chữa, cải tạo mở rộng Trung tâm Giáo dục thường xuyên Chu Văn An.
Một số trung tâm kết hợp dạy văn hóa cho học sinh trung cấp, dạy nghề cho học viên[12].
Góp ý kế hoạch năm học 2017 - 2018 cho 30 trung tâm giáo dục thường xuyên và phân hiệu bổ túc văn hóa ngay từ đầu năm học, giúp các trung tâm xác định mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp để thực hiện tốt kế hoạch năm học; công tác chỉ đạo, quản lý của các trung tâm đã được tổ chức thực hiện ngày càng chuyên sâu, đồng bộ, thông qua quy chế làm việc, phân công phân nhiệm các bộ phận thực hiện.
3.2. Đối với trung tâm học tập cộng đồng
Để nâng cao chất lượng hoạt động trung tâm học tập cộng đồng, Sở Giáo dục và Đào tạo đã có Công văn số 835/GDĐT-GDTX ngày 17 tháng 3 năm 2017 về chỉ đạo nâng chất lượng, hiệu quả hoạt động trung tâm học tập cộng đồng trên địa bàn Thành phố; Công văn số 1987/GDĐT-GDTX ngày 07 tháng 6 năm 2017 gửi Chủ tịch Ủy ban nhân dân quận, huyện đề nghị khảo sát, đánh giá thực trạng tình hình hoạt động các trung tâm học tập cộng đồng để củng cố và nâng chất lượng hoạt động các trung tâm học tập cộng đồng một cách thực chất, phục vụ nhu cầu học tập của Nhân dân trong quá trình xây dựng Thành phố Hồ Chí Minh thành Thành phố học tập; Hội Khuyến học Thành phố đã triển khai kế hoạch số 11/KH-HKH ngày 03 tháng 01 năm 2017 đến 24 quận huyện và phường, xã, thị trấn, qua đó tất cả các quận, huyện đã triển khai thực hiện kế hoạch về phát huy vai trò của Hội Khuyến học trong việc củng cố nâng cao chất lượng hoạt động của trung tâm học tập cộng đồng trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh năm 2017. Đánh giá năm 2017 về trung tâm học tập cộng đồng như sau:
Bộ máy quản lý của trung tâm gồm Giám đốc là Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường, xã kiêm nhiệm; 01 Phó Giám đốc là Chủ tịch Hội Khuyến học phường, xã; 01 Phó Giám đốc là giáo viên phổ cập ở phường, xã hoặc Hiệu trưởng trường học nơi đặt làm trụ sở trung tâm. Thành phố hiện có 894 cán bộ quản lý (320 giám đốc, 574 phó giám đốc), 246 giáo viên biệt phái làm việc tại trung tâm và 1.186 cộng tác viên gồm cán bộ nghỉ hưu, người có kiến thức, kinh nghiệm trong các lĩnh vực tham gia vào hoạt động giảng dạy tại các trung tâm. Ban Giám đốc đều có quy chế làm việc và có sự phân công cụ thể từng thành viên của trung tâm.
Về thực hiện chế độ chính sách theo Thông tư 96/2008/TT-BTC, ngân sách Nhà nước năm 2017 đã chi 1.633 tỷ đồng cho hoạt động trung tâm học tập cộng đồng; huy động từ nguồn xã hội hóa đạt 1.248 tỷ đồng[13], tổng cộng 2.881 tỷ đồng. Đến nay còn 56 trung tâm chưa được cấp kinh phí ban đầu, 07 trung tâm chưa được chi phụ cấp trách nhiệm cho Ban Giám đốc trung tâm, 87 trung tâm được chi ngân sách chỉ đủ chi phụ cấp cho Ban Giám đốc, không còn để chi cho các hoạt động của trung tâm.
Các trung tâm học tập cộng đồng tại 21/24 quận, huyện đã có con dấu riêng; Trung tâm học tập cộng đồng phường Bình Trị Đông và Bình Trị Đông B quận Bình Tân chưa có con dấu riêng; huyện Hóc Môn và huyện Cần Giờ chưa làm con dấu cho trung tâm học tập cộng đồng.
Quận 8, Quận 9, quận Tân Bình, quận Thủ Đức, quận Gò Vấp, huyện Cần Giờ chưa cấp đủ kinh phí trang bị cơ sở vật chất ban đầu cho trung tâm học tập cộng đồng; môt số nơi kinh phí chi thường xuyên còn thấp (dưới 10 triệu đồng/năm): Quận 4, Quận 6, quận Tân Phú, quận Thủ Đức, quận Gò Vấp, huyện Hóc Môn, huyện Cần Giờ nên ảnh hưởng đến chất lượng hoạt động của trung tâm.
Các trung tâm học tập cộng đồng trên địa bàn Thành phố hàng năm đều xây dựng kế hoạch hoạt động và tổ chức triển khai thực hiện kế hoạch, kết quả đạt được trong năm 2017 như sau:
Các lớp xóa mù chữ và phổ cập giáo dục tại các trung tâm đã huy động được 8.500 học viên ra lớp học tập; bồi dưỡng kiến thức ngoại ngữ, tin học cho 13.594 học viên; tập huấn dạy nghề ngắn hạn, kỹ thuật nông nghiệp và tư vấn kinh tế gia đình cho 72.708 học viên; các lớp tuyên truyền giáo dục pháp luật cho 294.458 học viên; tuyên truyền về y tế, sức khỏe cho 354.424 học viên; các lớp về văn nghệ, thể dục thể thao và các nội dung khác thu hút được 397.645 học viên.
Về đánh giá xếp loại cuối năm, có 133 trung tâm học tập cộng đồng xếp loại tốt (41,6%), 159 trung tâm học tập cộng đồng xếp loại khá (49,6%), 28 trung tâm xếp loại trung bình (8,8%)[14].
3.3. Đối với trung tâm ngoại ngữ, tin học
Với mạng lưới rộng lớn, đa dạng các trung tâm ngoại ngữ, tin học được phủ khắp thành phố hàng năm thu hút trên 1 triệu lượt học viên ra học. Nhờ quan tâm về đầu tư cơ sở vật chất, bổ sung trang thiết bị, phương pháp giảng dạy nên học sinh thành phố dự thi chứng chỉ tiếng Anh của Cambridge English có số điểm trung bình tăng từ 0,1 đến 0,35 khiên và tỷ lệ đạt điểm tối đa cho từng kỹ năng cũng cao hơn so với năm học trước.
Theo kết quả khảo sát của EF (Education First), một tổ chức giáo dục quốc tế, về trình độ tiếng Anh của các quốc gia trên thế giới, trong số các nước châu Á, Việt Nam là quốc gia được xếp vào nhóm có cải thiện lớn về trình độ tiếng Anh, được đánh giá xếp hạng thứ 5. Trong đó hai thành phố có trình độ tiếng Anh cao nhất là Thành phố Hồ Chí Minh (đạt 54.49 điểm) và Hà Nội (đạt 53.64 điểm) (Kết quả khảo sát EF EPI - English Proficiency Index năm 2011).
Nhiều trung tâm tăng cường đầu tư cơ sở vật chất như thay mới bàn ghế, các thiết bị phục vụ giảng dạy trong các lớp học hoặc trang trí, thiết kế phù hợp với phương pháp giảng dạy, độ tuổi và khóa học của học viên nhằm mang đến một môi trường học tập thoải mái, an toàn, tạo tâm lý thích đến lớp. Trang thiết bị dạy và học hiện đại được cập nhật nhằm tăng cường giờ thực hành của học viên trên lớp; nhiều trung tâm trang bị bảng thông minh tạo thuận lợi cho việc ứng dụng công nghệ thông tin trong việc giảng dạy và học tập. Nhiều trung tâm đầu tư phát triển thư viện, phòng đọc sách hiện đại với hàng ngàn đầu sách thường xuyên được cập nhật mới cùng với các phần mềm tự học ngôn ngữ trên máy tính nhằm giúp học viên trau dồi thêm kỹ năng giao tiếp bằng ngoại ngữ.
Các hoạt động ngoài giờ lên lớp được các trung tâm quan tâm tổ chức với nội dung và hình thức phong phú đa dạng phù hợp với nhiều lứa tuổi nhằm tạo sân chơi và rèn luyện các kỹ năng giao tiếp, kỹ năng sống cho học viên. Một số trung tâm tổ chức tốt các sự kiện bằng các hoạt động văn nghệ, thể thao, dã ngoại… kết hợp mời chuyên gia định hướng và giới thiệu nghề nghiệp cho người học ngoại ngữ để đi lao động nước ngoài. Những hoạt động này đem lại hiệu quả cho việc nâng cao chất lượng và tạo hứng thú trong học tập, giúp học viên gắn bó với trung tâm nhiều hơn.
4. Công tác xóa mù chữ, củng cố vững chắc kết quả xóa mù chữ và phổ cập giáo dục
4.1. Nhiệm vụ xóa mù chữ
Tỷ lệ biết chữ mức độ 1 độ tuổi 15-35 đạt 99,92%. Tỷ lệ biết chữ mức độ 1 độ tuổi 15-60 đạt 99,80% .
Tỷ lệ biết chữ mức độ 2 độ tuổi 15-35 đạt 99,69% chưa đạt chỉ tiêu đề ra (99,9%), tăng hơn cùng kỳ năm trước 0,20%.
Tỷ lệ biết chữ mức độ 2 độ tuổi 15-60 đạt 99,14% chưa đạt chỉ tiêu đề ra (99,5%), tăng hơn cùng kỳ năm trước 0,56%.
Đối chiếu với Nghị định 20/2014/NĐ-CP của Thủ tướng Chính phủ toàn Thành phố có 319 xã đạt chuẩn xóa mù chữ mức độ 1 và 319 xã đạt chuẩn xóa mù chữ mức độ 2.
Đối chiếu với Quyết định số 5696/QĐ-UBND của Ủy ban nhân dân Thành phố toàn Thành phố có 9 quận, huyện đạt chuẩn xóa mù chữ mức độ 1[15] và 4 quận, huyện đạt chuẩn xóa mù chữ mức độ 2[16].
Trong năm 2017 số người còn mù chữ độ tuổi 15-60: 8.239 người, vận động ra học 3.175 người, được công nhận biết chữ 1.254 người được mở tại 259 lớp học với 175 giáo viên tham gia giảng dạy; số người chưa hoàn thành giáo dục tiếp tục sau khi biết chữ là 34.971 người, vận động ra học 4.250 người, được công nhận biết chữ mức độ 2 là 2.519 người được mở tại 300 lớp học với 276 giáo viên tham gia giảng dạy.
4.2. Nhiệm vụ phổ cập giáo dục
Các quận, huyện tiếp tục củng cố vững chắc kết quả phổ cập tiểu học đúng độ tuổi, phổ cập giáo dục trung học cơ sở và phổ cập giáo dục bậc trung học.
5. Các biện pháp nâng cao chất lượng dạy và học
Kết quả đào tạo trong Học kỳ I năm học 2017 - 2018: Đính kèm phụ lục bảng số liệu xếp loại học lực, hạnh kiểm của học viên năm học 2017 - 2018.
Giám đốc các trung tâm chủ động xây dựng kế hoạch dạy học chi tiết đối với chương trình giáo dục thường xuyên cấp trung học học sở và trung học phổ thông một cách linh hoạt phù hợp với mục tiêu và khung thời gian của chương trình (Công văn số 5842/BGDĐT-VP ngày 01 tháng 9 năm 2011 của Bộ Giáo dục và Đào tạo về hướng dẫn điều chỉnh nội dung dạy học và điều kiện thực tế của mỗi trung tâm); chủ động bố trí thời gian tổ chức phụ đạo cho học viên có học lực yếu, kém và tổ chức ôn tập cho học viên các lớp cuối cấp; chủ động trong việc kiểm tra, đánh giá chất lượng dạy học của trung tâm. Khuyến khích giáo viên sử dụng các phương pháp dạy học tích cực, đa dạng các hình thức tổ chức dạy học phù hợp nhằm phát huy tính chủ động, sáng tạo và tự học của học viên[17].
Sinh hoạt chuyên môn theo cụm giáo dục thường xuyên đã được củng cố và phát huy tốt vai trò của cụm trong việc trao đổi, học tập về chuyên môn, nghiệp vụ, chuyên đề[18] nhằm chia sẻ kinh nghiệm trong giảng dạy.
Công tác đổi mới phương pháp dạy và học, đổi mới hình thức, phương pháp thi, kiểm tra đánh giá theo hướng chú trọng đánh giá phẩm chất và năng lực của học viên, đã được các trung tâm quan tâm thực hiện nhằm giúp học viên phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức, kỹ năng vào giải quyết các vấn đề thực tiễn.
Trong Học kỳ I, Sở Giáo dục và Đào tạo đã kiểm tra chuyên môn 16 trung tâm giáo dục thường xuyên[19] qua kiểm tra đã định hướng, điều chỉnh nhiệm vụ chuyên môn, góp ý các giải pháp để nâng cao chất lượng đào tạo. Công tác tự kiểm tra, giám sát việc tổ chức thực hiện các hoạt động tại các đơn vị ngày càng nền nếp, hiệu quả, xây dựng được nhiều tập thể sư phạm gắn bó trách nhiệm, học viên tích cực học tập và chấp hành tốt các quy định.
Các trung tâm đảm bảo thực hiện đúng quy định về sinh hoạt tổ, nhóm bộ môn, trong đó chú ý tiến độ thực hiện phân phối chương trình, tiết thực hành thí nghiệm, chuẩn kiến thức kỹ năng từng đơn vị kiến thức, đánh giá và rút kinh nghiệm tiết dự giờ thao giảng: thực hiện định mức số tiết dự giờ, thao giảng/học kỳ.
Sử dụng các phương pháp dạy học theo hướng tăng cường sự tương tác giữa thầy với trò, giữa trò với trò như tổ chức dạy học bằng phương pháp làm việc nhóm, sân khấu hóa và dạy học theo dự án.
Tăng cường tính trực quan trong giảng dạy và thực hành thí nghiệm theo phân phối chương trình giúp học viên nắm vững kiến thức đã học.
Chủ động phối hợp với các phòng ban chuyên môn của Sở, của quận, huyện tổ chức giáo dục học viên những kỹ năng như sinh hoạt tập thể, công tác xã hội, các diễn đàn để học viên thuyết trình, tự bảo vệ và chăm sóc sức khỏe, phòng chống các tệ nạn xã hội, văn hóa giao thông khi tham gia giao thông đường bộ, xử lý xung đột và sử dụng tính tích cực các mạng xã hội; phối hợp với cha mẹ học viên để quản lý giờ giấc, chuyên cần, ý thức rèn luyện đạo đức và thực hiện nền nếp tác phong của học viên.
6. Công tác chỉ đạo, quản lý, phối hợp hoạt động
6.1. Công tác phối hợp giữa phòng giáo dục và đào tạo và trung tâm giáo dục thường xuyên
Đa số phòng giáo dục và đào tạo và trung tâm giáo dục thường xuyên đã phối hợp tốt trong công tác tham mưu cho Ủy ban nhân dân quận, huyện các giải pháp xây dựng xã hội học tập hàng năm; hướng dẫn và kiểm tra đánh giá kết quả việc thực hiện nhiệm vụ xây dựng xã hội học tập.
Tổ chức “Tuần lễ hưởng ứng học tập suốt đời”: hầu hết các phòng giáo dục và đào tạo đã phối hợp tốt với các trung tâm giáo dục thường xuyên tổ chức Lễ Khai mạc cũng như các nội dung hoạt động trong tuần lễ phát động.
Tuy nhiên hoạt động của các trung tâm học tập cộng đồng chưa phong phú; phòng giáo dục và đào tạo quận, huyện chưa tham mưu kịp thời với Ban Chỉ đạo xây dựng xã hội học tập cấp quận, huyện cấp kinh phí chi thường xuyên cho các trung tâm học tập cộng đồng; chưa huy động được các nguồn lực tại địa phương hỗ trợ điều kiện, kinh phí cho các trung tâm học tập cộng đồng.
6.2. Công tác phối hợp cùng các phòng, ban của Sở Giáo dục và Đào tạo
Các phòng ban của Sở Giáo dục và Đào tạo đã phối hợp tốt trong công tác kiểm tra hồ sơ phổ cập, chống mù chữ, thẩm định hồ sơ mở trung tâm ngoại ngữ, tin học, kiểm tra các địa điểm dạy ngoại ngữ không phép và các công tác khác.
7. Đánh giá chung
7.1. Những kết quả đạt được
Các hoạt động giáo dục thường xuyên trong Học kỳ I vừa qua đã có nhiều chuyển biến tích cực. Các thành quả tâm đắc nhất đã đạt được là:
Công tác xây dựng xã hội học tập đã được các cấp chính quyền, đoàn thể, cán bộ, Nhân dân quan tâm và tham gia tích cực, đã đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị, kinh phí cho trung tâm hoạt động, tạo nền tảng cho việc xây dựng xã hội học tập từ cơ sở. Công tác tuyên truyền nâng cao nhận thức cho mọi người về mục đích ý nghĩa của học tập suốt đời, xây dựng xã hội học tập được đẩy mạnh với nhiều nội dung thiết thực và hình thức phong phú.
Các biện pháp nâng cao chất lượng dạy và học các chương trình giáo dục thường xuyên đã được các trung tâm giáo dục thường xuyên quan tâm hơn. Nhiều trung tâm đã chỉ đạo sâu sát việc đổi mới phương pháp dạy và học, đổi mới kiểm tra đánh giá; tích cực ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học; nhiều biện pháp nâng cao trình độ chuyên môn giáo viên đã được triển khai như tổ chức thi giáo viên dạy giỏi; tổ chức sinh hoạt chuyên môn theo cụm,... các trung tâm đã tổ chức khảo sát phân loại học viên bổ túc trung học phổ thông ngay từ đầu cấp học, trên cơ sở đó lập kế hoạch phụ đạo học viên yếu, kém.
Các trung tâm ngoại ngữ, tin học hoạt động ổn định, chấp hành sự quản lý, chỉ đạo của Sở Giáo dục và Đào tạo, đáp ứng nhu cầu học tập của học sinh, sinh viên và người lao động; nhiều đơn vị đã đầu tư tốt cơ sở vật chất, chương trình, đội ngũ giáo viên, nhân viên và đã khẳng định được uy tín với xã hội.
7.2. Những mặt còn hạn chế
Vài quận, huyện trung tâm học tập cộng đồng chưa được đầu tư kinh phí ban đầu và hỗ trợ kinh phí chi thường xuyên để hoạt động. Việc huy động các nguồn lực trong xã hội tham gia xây dựng xã hội học tập chưa phát huy mạnh mẽ; đội ngũ báo cáo viên ở trung tâm còn ít thiếu cơ chế để huy động cán bộ nghỉ hưu và những người có năng lực chuyên môn tham gia giảng dạy tại trung tâm học tập cộng đồng; nguồn tài liệu tuyên truyền, giảng dạy chưa phong phú; hình thức tổ chức các lớp học thiếu linh hoạt, chưa thực sự phù hợp với điều kiện sống và làm việc của mỗi địa phương; công tác khảo sát, điều tra, nắm bắt nhu cầu học tập của người dân chưa cập nhật kịp thời, đầy đủ, chính xác. Đối với các trung tâm giáo dục thường xuyên còn một số trung tâm chưa bố trí đủ bộ máy. Một số cán bộ quản lý chưa quan tâm đầy đủ đến công tác quản lý, công tác phối hợp với phòng giáo dục và đào tạo, đa dạng hóa hoạt động của trung tâm và thực hiện nhiệm vụ liên kết đào tạo.
Các phòng giáo dục và đào tạo, các trung tâm chưa quan tâm phối hợp với các xã, phường, các khu chế xuất, khu công nghiệp mở lớp bổ túc văn hóa cho người lao động, cho công nhân, số người còn mù chữ đa số nằm trong độ tuổi 36-60 do vậy khó huy động ra lớp.
Đối với các trung tâm ngoại ngữ tin học: tinh thần tự giác, ý thức chấp hành các quy định của pháp luật, của ngành giáo dục ở một số đơn vị còn chưa tốt. Một số trung tâm chưa quan tâm đến nâng cấp cơ sở vật chất, đội ngũ giáo viên, công tác phòng cháy chữa cháy, nội dung quảng cáo chưa đúng giấy phép được cấp. Công tác thông tin liên lạc, cập nhật báo cáo chuyên môn… ở một số trung tâm chưa thực hiện nghiêm túc.
III. ĐỊNH HƯỚNG NHIỆM VỤ HỌC KỲ II
1. Các trung tâm tiếp tục triển khai Kế hoạch hành động của ngành giáo dục nhằm thực hiện hiệu quả Nghị quyết số 29-NQ/TW về đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục và đào tạo và Chỉ thị số 05-CT/TW ngày 15 tháng 5 năm 2016 của Bộ Chính trị về “Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” và các phong trào thi đua của ngành.
2. Phòng Giáo dục và Đào tạo rà soát kế hoạch thực hiện Đề án “Xây dựng xã hội học tập giai đoạn 2012 - 2020” trên địa bàn, bổ sung những giải pháp thiết thực nhằm hoàn thành các mục tiêu của Đề án đến năm 2020.
3. Về nhiệm vụ xóa mù chữ và giáo dục tiếp tục sau khi biết chữ:
- Tiếp tục cập nhật bổ sung, rà soát số liệu thống kê trên phần mềm phổ cập giáo dục và xóa mù chữ.
- Xây dựng kế hoạch mở lớp xóa mù chữ và giáo dục tiếp tục sau khi biết chữ; đề xuất kinh phí thực hiện nhiệm vụ.
- Tích cực mở lớp và vận động người dân tham gia học xóa mù chữ và giáo dục tiếp tục sau khi biết chữ. Tăng cường vai trò phối hợp của các lực lượng xã hội khác trong cộng đồng như hội khuyến học, hội cựu giáo chức, đoàn thanh niên,... trong công tác điều tra, vận động người học xóa mù chữ và trực tiếp dạy lớp xóa mù chữ.
- Tích cực đổi mới phương pháp xóa mù chữ: Tổ chức tập huấn phương pháp xóa mù chữ gắn với phát triển cộng đồng đến đội ngũ giáo viên dạy xóa mù chữ và triển khai thực hiện rộng rãi đến các lớp xóa mù chữ và giáo dục tiếp tục sau khi biết chữ.
4. Rà soát, đánh giá hoạt động của trung tâm giáo dục thường xuyên sau khi sáp nhập theo Thông tư liên tịch số 39/TTLT/BLĐTBXH-BGDĐT-BNV, đề xuất các giải pháp thiết thực nhằm giúp các trung tâm hoạt động hiệu quả, bền vững.
5. Tiếp tục rà soát, đánh giá hoạt động của các trung tâm học tập cộng đồng, hoàn thiện quy mô hoạt động của trung tâm theo hướng phù hợp với thực tiễn của mỗi địa phương, hoạt động hiệu quả và phát triển bền vững.
- Thường xuyên kiện toàn bộ máy quản lý trung tâm học tập cộng đồng khi có sự thay đổi nhân sự; phân công nhiệm vụ rõ ràng, gắn trách nhiệm cụ thể đến từng thành viên trong Ban Giám đốc trung tâm học tập cộng đồng.
- Tăng cường điều tra nhu cầu học tập của người dân trong cộng đồng để xây dựng kế hoạch hoạt động sát hợp, hiệu quả (điều tra nhu cầu học tập của người dân thông qua hình thức phát phiếu điều tra, thông qua tổ dân phố, các tổ chức, đoàn thể). Kế hoạch, chương trình hoạt động của trung tâm học tập cộng đồng phải hài hòa giữa nhiệm vụ chính trị, chuyên môn của chính quyền, các ban ngành, tổ chức, đoàn thể.
- Đa dạng hóa nội dung, hình thức học tập phù hợp tập quán văn hóa, điều kiện sinh sống ở các cộng đồng dân cư khác nhau.
- Đối với các trung tâm học tập cộng đồng thuộc địa bàn nông thôn, chính quyền xã tăng cường lồng ghép các nhiệm vụ của trung tâm học tập cộng đồng vói các tiêu chí xây dựng nông thôn mới để tận dụng nguồn lực tài chính cho hoạt động của trung tâm học tập cộng đồng. Tăng cường công tác liên kết, tư vấn, tạo cơ hội cho người dân được ứng dụng những kiến thức đã học tại trung tâm học tập cộng đồng vào sản xuất, tạo ra những sản phẩm và tiêu thụ được sản phẩm tăng thu nhập cho người dân và đóng góp vào nguồn kinh phí của trung tâm học tập cộng đồng.
- Đẩy mạnh công tác xã hội hóa các nguồn lực hỗ trợ hoạt động của trung tâm học tập cộng đồng bằng nhiều hình thức như tận dụng nguồn nhân lực từ các ban ngành, cơ quan, tổ chức, đoàn thể để xây dựng mạng lưới báo cáo viên, cộng tác viên; tận dụng cơ sở vật chất, trang thiết bị của ủy ban nhân dân xã, các cơ sở văn hóa, giáo dục,...địa phương; vận động sự hỗ trợ từ các doanh nghiệp, các chương trình, dự án,...trên địa bàn.
- Đối với những nơi không bố trí được giáo viên các trường học (tiểu học, trung học cơ sở) sang làm cán bộ chuyên trách của trung tâm học tập cộng đồng, phòng giáo dục và đào tạo xem xét, tham mưu ủy ban nhân dân cấp cấp huyện có thể phân công giáo viên các trường tiểu học, trung học cơ sở, trung tâm giáo dục thường xuyên cấp huyện hỗ trợ các trung tâm học tập cộng đồng (tư vấn hoạt động, hồ sơ chuyên môn, xây dựng kế hoạch hoạt động, trực tiếp tham gia giảng dạy các chuyên đề liên quan đến giáo dục ở trung tâm...).
- Nghiên cứu, tham mưu với cấp ủy, chính quyền các cấp bổ sung chế độ, chính sách địa phương hỗ trợ các trung tâm học tập cộng đồng hoạt động tốt hơn.
- Tăng cường tổ chức học tập, trao đổi kinh nghiệm giữa các trung tâm học tập cộng đồng trên địa bàn huyện và thành phố. Tổ chức hội thi báo cáo viên giỏi, cộng tác viên tích cực, ...Tổ chức sơ kết hoạt động của trung tâm học tập cộng đồng cuối năm học, kịp thời khen thưởng các trung tâm học tập cộng đồng hoạt động hiệu quả, có biện pháp nâng chất các trung tâm học tập cộng đồng yếu, kém.
6. Đối với các trung tâm ngoại ngữ, tin học
- Tham mưu với Ủy ban nhân dân Thành phố tăng cường chỉ đạo phối hợp với các sở, ban ngành có liên quan và các quận, huyện tiến hành thanh tra, kiểm tra, rà soát và có biện pháp xử lý nghiêm với các trung tâm, cơ sở tổ chức dạy học ngoại ngữ, tin học không được cấp phép.
- Tăng cường công khai thông tin và các hoạt động của các trung tâm ngoại ngữ, tin học trên cổng thông tin điện tử của Sở Giáo dục và Đào tạo; thực hiện hiệu quả công tác thi đua, khen thưởng đối với các trung tâm, giáo viên, nhân viên và học sinh của trung tâm; giới thiệu và nhân rộng các mô hình trung tâm hoạt động hiệu quả.
- Tổ chức tập huấn về pháp luật, chuyên môn, nghiệp vụ và phương pháp giảng dạy cho cán bộ quản lý, giáo viên các trung tâm ngoại ngữ, tin học; tạo môi trường để cán bộ quản lý, giáo viên các trung tâm ngoại ngữ, tin học giao lưu học hỏi kinh nghiệm, thể hiện khả năng; tiếp tục cho cán bộ quản lý, giáo viên trung tâm ngoại ngữ, tin học học tập nâng cao trình độ.
7. Đổi mới công tác quản lý, giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho các cơ sở giáo dục thường xuyên. Đa dạng hóa các chương trình, nội dung và hình thức tổ chức dạy học; chú trọng phát triển các chương trình bồi dưỡng ngắn hạn. Tiếp tục mở rộng dạy văn hóa kết hợp với dạy nghề, tổ chức giáo dục khởi nghiệp, góp phần phân luồng học sinh sau trung học cơ sở. Đẩy mạnh đổi mới phương pháp dạy học, đổi mới kiểm tra đánh giá kết quả học tập theo định hướng phát triển năng lực người học.
8. Đẩy mạnh công tác truyền thông, chú trọng ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý, dạy học và bồi dưỡng giáo viên./.
Nơi nhận: GIÁM ĐỐC
- Bộ GDĐT (để báo cáo);
- Các Phó Giám đốc Sở GDĐT (để biết);
- Các phòng, ban Sở (để phối hợp thực hiện); Đã ký
- Các phòng GDĐT quận, huyện (để thực hiện);
- Các trung tâm, phân hiệu BTVH (để thực hiện);
- Lưu: VT, P.GDTX. Lê Hồng Sơn
[1] Trung tâm Giáo dục thường xuyên Chu Văn An, Lê Quý Đôn, Tiếng Hoa, Tôn Đức Thắng, Thanh niên xung phong, Gia Định.
[2] Quận Bình Tân, Quận 4, Quận 11, huyện Nhà Bè, Quận 8, quận Tân Bình, quận Tân Phú, Quận 2, Quận 6, Quận 9.
[3] Công văn 1517/UBND-VX ngày 24 tháng 3 năm 2017, Thông báo số 454-TB/VPTU ngày 15 tháng 4 năm 2017; Công văn số 805-CV/TU ngày 03 tháng 10 năm 2017.
[4] Trung tâm Giáo dục thường xuyên huyện Bình Chánh có 3 phân hiệu, quận Gò Vấp có 3 phân hiệu, huyện Cần Giờ có 3 phân hiệu.
[5] Giáo viên Trung tâm Giáo dục thường xuyên Quận 12.
[6] 12 Học viên Trung tâm Giáo dục thường xuyên Chu Văn An (1), Quận 4 (1), Quận 6 (4), Quận 7 (3), Quận 12 (1), quận Phú Nhuận (2) được vinh danh là học viên “Ba tích cực cấp thành phố”.
[7] Trung tâm Giáo dục thường xuyên quận Phú Nhuận đạt giải 4, Quận 10 đạt giải khuyến khích.
[8] Trung tâm Giáo dục thường xuyên Quận 1, Quận 10 đạt giải khuyến khích.
[9] Các Quận 2, Quận 10, quận Phú Nhuận, quận Bình Tân đã tổ chức lớp bồi dưỡng nghiệp vụ quản lý trung tâm học tập cộng đồng.
[10] Đã gửi báo cáo: Quận 4, Quận 5, Quận 8, Quận 10, Quận 11, quận Tân Bình, quận Phú Nhuận, quận Tân Phú, quận Bình Tân, huyện Bình Chánh, huyện Hóc Môn, huyện Củ Chi, huyện Cần Giờ.
[11] Chưa báo cáo: Quận 1, Quận 2, Quận 3, Quận 6, Quận 7, Quận 9, Quận 12, quận Gò Vấp, quận Bình Thạnh, quận Thủ Đức, huyện Nhà Bè.
[12] Trung tâm Giáo dục thường xuyên quận Tân Bình, Quận 8, Quận 6, Quận 11, Tôn Đức Thắng, Quận 5.
[13] Theo báo cáo cuối năm 2017 của 17 quận, huyện (Quận 1, Quận 2, Quận 4, Quận 5, Quận 6, Quận 7, Quận 8, quận Tân Bình, quận Phú Nhuận, quận Gò Vấp, quận Thủ Đức, quận Tân Phú, quận Bình Tân, huyện Bình Chánh, huyện Hóc Môn, huyện Nhà Bè, huyện Cần Giờ).
[14] Theo thống kê cuối năm 2017 của Hội Khuyến học Thành phố.
[15] Quận 3, Quận 5, Quận 10, quận Bình Thạnh, quận Gò Vấp, quận Phú Nhuận, quận Tân Phú, quận Bình Tân, huyện Củ Chi.
[16] Quận 3, quận Phú Nhuận, quận Tân Phú, quận Bình Tân.
[17] Trong Học kỳ I: 21.184 tiết sử dụng đồ dùng dạy học, 7.689 tiết sử dụng công nghệ thông tin, 877 đồ dùng dạy học tự làm.
[18] Học kỳ I đã tổ chức 16 chuyên đề (6 cấp thành phố các môn Toán, Vật lý, Sinh học, Lịch sử, Địa lý, tiếng Anh, 10 chuyên đề cấp cụm).
[19] Trung tâm Giáo dục thường xuyên Chu Văn An, Quận 2, quận Bình Thạnh, quận Tân Bình, huyện Cần Giờ, huyện Bình Chánh, Gia Định, Tôn Đức Thắng, Quận 11, quận Gò Vấp, Quận 8, Quận 6, Quận 12, Quận 10, quận Tân Phú, huyện Hóc Môn.